Vùng Đồng bằng sông Cửu Long là khu vực sản xuất nông nghiệp điển hình của nước ta, tuy nhiên, tình trạng ô nhiễm môi trường trong sản xuất nông nghiệp ở đây đang ngày càng nghiêm trọng.

Với tiềm năng nông nghiệp và thuỷ sản to lớn, những năm qua, Đồng bằng sông Cửu Long luôn đóng góp khoảng 53% tổng sản lượng lương thực, 65% sản lượng thuỷ sản nuôi trồng và 70% trái cây của cả nước.

Tuy nhiên, trong quá trình phát triển kinh tế đã phát sinh nhiều các nguồn chất thải gây ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng tới sức khỏe của nhân dân, nhất là nguồn nước thải chưa được kiểm soát đang diễn biến ngày càng phức tạp.
 

Ô nhiễm khu vực đồng bằng sông Cửu Long

Với đặc điểm là vùng kinh tế nông nghiệp trọng điểm, Đồng bằng sông Cửu Long luôn đứng đầu cả nước về nhiều mặt hàng nông sản. Mặc dù, diện tích sản xuất nông nghiệp trong khu vực giảm trong vòng hai thập kỷ qua, nhưng năng suất liên tục tăng cao.

Việc năng suất tăng cao thường đi liền với sử dụng nhiều thuốc trừ sâu và phân bón hóa học. Nước thải từ hoạt động canh tác nông nghiệp được xem là nguồn thải phân tán và hầu như không thể kiểm soát được trong quá trình canh tác.

Theo báo cáo của Ngân hàng Thế giới, hầu hết nông dân trồng lúa đều sử dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật nhiều hơn mức được khuyến nghị.

Theo tính toán, mỗi năm có khoảng 1.790 tấn hoạt chất thuốc diệt ốc sên, 210 tấn hoạt chất thuốc diệt cỏ, 1.224 tấn hoạt chất thuốc trừ sâu và 4.245 tấn hoạt chất thuốc diệt nấm được sử dụng dư thừa trong sản xuất lúa ở Đồng bằng sông Cửu Long.

Ở An Giang và Kiên Giang, hai tỉnh sản xuất gạo lớn nhất của Đồng bằng sông Cửu Long, nông dân trồng lúa sử dụng phân bón nhiều hơn 20 - 30% so với mức khuyến cáo. Lượng phân bón hoá học và thuốc bảo vệ thực vật dư thừa là một trong những nguyên nhân gây suy giảm chất lượng nước mặt trong khu vực.

Bên cạnh đó, hoạt động nuôi trồng thủy sản cũng đang là nguồn gây ô nhiễm môi trường cục bộ trên các sông vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Hiện nay, nuôi trồng thủy sản ở Đồng bằng sông Cửu Long đã trở thành một nghề truyền thống và có giá trị lớn cho đời sống kinh tế người dân cũng như kinh tế quốc gia.

Toàn vùng có diện tích nuôi thủy sản nước ngọt, nước mặn trên 685.800 ha, bằng gần 60% của cả nước. Chỉ tính riêng tại An Giang, đã có 102 cơ sở nuôi trồng thuỷ sản phát sinh nước thải từ 1.000 - 70.000 m3/ngày đêm (Sở Tài nguyên và Môi trường An Giang, 2017).

Một điều hết sức quan tâm là, bùn phù sa lắng đọng trong ao nuôi trồng thủy sản thải ra hàng năm trong quá trình vệ sinh và nạo vét ao nuôi là nguồn gây ô nhiễm chính; chất thải ao nuôi công nghiệp cũng là nguồn có thể gây ô nhiễm môi trường và dịch bệnh thủy sản phát sinh trong môi trường nước.

Trong khi đó, hiện nay, vấn đề xử lý nguồn bùn thải, chất thải nuôi trồng thuỷ sản còn rất hạn chế chưa đáp ứng các yêu cầu quy chuẩn môi trường quy định.

Thêm vào đó, nước thải từ hoạt động nuôi trồng thủy sản cũng thường không được kiểm soát, không được xử lý (hoặc chỉ thông qua quá trình lắng sơ bộ), thải trực tiếp ra môi trường, gây tác động đáng kể đến chất lượng nước mặt. Sự cố tôm, cá chết do bệnh cũng thường xảy ra, nếu không kiểm soát tốt sẽ gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng nước mặt.

Không chỉ có nước thải nông nghiệp, nước thải trong hoạt động chế biến nông nghiệp và thủy sản cũng đang khiến cho môi trường ĐBSCL điêu đứng. Tính đến giữa năm 2018, toàn vùng có 37 khu công nghiệp tại 12 tỉnh, thành phố đang hoạt động.

Hầu hết các khu công nghiệp, cụm công nghiệp tập trung trên địa bàn các tỉnh vùng Đồng bằng sông Cửu Long đều nằm dọc tuyến sông Hậu và sông Tiền, hoạt động trong lĩnh vực chế biến thủy sản đông lạnh xuất khẩu. Tỷ lệ khu công nghiệp có hệ thống xử lý nước thải tập trung trên địa bàn các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long là 89%, tương đương tỷ lệ trung bình cả nước (88,5%).

Trong tổng số 52 cụm công nghiệp có 17 cụm công nghiệp đã có hệ thống xử lý nước thải tập trung, chiếm tỷ lệ 33%, đây là tỷ lệ khá cao so với các vùng khác (tỷ lệ trung bình toàn quốc là 16). Như vậy, vẫn còn một lượng đáng kể nước thải không qua xử lý hoặc xử lý không đạt tiêu chuẩn xả ra môi trường.

Đây là một trong những nguyên nhân khiến cho tài nguyên nước bề mặt trên sông Tiền, sông Hậu và các cửa sông thông ra biển... đã có các dấu hiệu nhiễm bẩn chất hữu cơ và vi sinh. Quan trắc môi trường nước cho thấy, các chỉ tiêu bị nhiễm bẩn là: BOD, COD, Coliform, H2S, NH4, Phèn sắt...

Kết quả các cuộc khảo sát mới nhất từ các cơ quan chuyên môn cho thấy, ô nhiễm môi trường trong sản xuất nông nghiệp ở Đồng bằng sông Cửu Long ngày càng nghiêm trọng hơn.

Nguồn: Giáo dục đô thị